KIỂM SOÁT TẬT CẬN THỊ Ở TRẺ EM

TẠI SAO CẬN THỊ CẦN ĐƯỢC QUAN TÂM?

Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác, do nhãn cầu bị dài ra, tia sáng (dữ liệu hình ảnh) thay vì hội tụ tại đúng võng mạc thì nó lại hội tụ ở trước võng mạc khiến người bị cận thị chỉ có thể nhìn được những vật gần mắt mà không nhìn rõ vật ở xa.

Tinh-trang-mat-bi-tat-can-thi

Hiện nay có khoảng 3 triệu là trẻ em ở độ tuổi từ 6 – 15 mắc tật cận thị. Theo kết quả khảo sát, cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ bị cận thị. Tỷ lệ cận thị gia tăng theo từng cấp học, thành thị cao hơn nông thôn. Tỷ lệ cận thị nặng (trên 6.00 diop – D) cũng tăng tương ứng. Ngoài ra, cận thị nặng còn dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng khác ở mắt như thoái hóa hắc võng mạc trung tâm gây giảm thị lực và có nguy cơ tiến triển thành bong võng mạc, lác mắt, glôcôm

NGUYÊN NHÂN GÂY RA TẬT CẬN THỊ

– Học tập và sinh hoạt thiếu khoa học là nguyên nhân cơ bản dẫn đến trình trạng gia tăng số học sinh bị cận thị. Khi đến trường các em học với cường độ cao, môi trường ánh sáng không đảm bảo, tư thế ngồi học, bàn ghế không phù hợp và đọc sách ở cự ly gần trong thời gian dài. Khi về nhà các em thường xem tivi, chơi máy vi tính nhiều giờ liên tục với cự ly rất gần hoặc đọc sách trong tư thế nằm ngửa, vì thời gian sinh hoạt kéo dài nên giấc ngủ bị thu ngắn lại, điều này khiến cho mức độ cận thị tiến triển nhanh hơn đặc biệt là lứa tuổi 7-9 tuổi và 12 – 14 tuổi.

Tre-tiep-xuc-som-va-thuong-xuyen-voi-cac-thiet-bi-dien-tu

– Do trẻ sinh thiếu tháng và trẻ sinh ra trọng lượng quá nhẹ là yếu tố khiến cho trẻ bị cận thị và hầu hết trẻ sinh ra với cơ thể dưới 2,5 kg thì đến tuổi thiếu niên đều bị cận thị.

– Khi bố mẹ bị cận thị thì rất dễ di truyền cho con cái, mức độ di truyền liên quan đến mức độ cận thị của bố mẹ. Thông thường bố mẹ cận thị từ 6 diop trở lên thì mức độ di truyền là 100%.

 

 


CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT SỰ TIẾN TRIỂN CỦA TẬT CẬN THỊ Ở TRẺ EM

Ngoài các phương pháp điều chỉnh độ cận như phẫu thuật bằng laser hoặc đặt kính nội nhãn …, đối với trẻ em dưới 18 tuổi, một số phương pháp kiểm soát cận thị đã được chứng minh thành công trong việc làm chậm hoặc giảm thiểu tối đa tốc độ tiến triển cận thị.

THUỐC NHỎ MẮT ATROPINE:

– Thuốc nhỏ mắt Atropine liều thấp là một trong những phương pháp kiểm soát cận thị đạt kết quả tốt và phổ biến, dùng được cho trẻ nhỏ tuổi, mang lại sự an toàn cao và hạn chế tối thiểu tác dụng phụ.

– Mỗi ngày bạn chỉ cần nhỏ một giọt vào lần lượt từng mắt của trẻ trước khi đi ngủ. Trẻ vẫn tiếp tục đeo kết hợp kính gọng hay kính áp tròng để chỉnh thị lực tối ưu vào ban ngày.

KÍNH ORTHO-K:

ORTHO-K (Orthokeratology) là một loại kính áp tròng cứng được thiết kế đặt biệt đeo vào ban đêm để điều chỉnh tật khúc xạ mà không cần phẫu thuật. Kính có khả năng làm điều chỉnh hình dáng của giác mạc tạm thời trong khoảng thời gian ngủ và có thể nhìn thấy rõ ràng mọi vật lúc thức dậy vào buổi sáng sau khi tháo kính ra.

Nguyen-tac-hoat-dong-cua-kinh-Ortho-K

KÍNH GỌNG HAI TRÒNG KIỂM SOÁT CẬN THỊ – EXECUTIVE BIFOCAL:

KÍNH GỌNG HAI TRÒNG KIỂM SOÁT CẬN THỊ - EXECUTIVE BIFOCAL

Kinh-gong-hai-trong-Bifocal-lens

– Kính hai tròng Executive là loại kính gọng có một đường thẳng nằm ngang kính chia cách vùng công suất 2 thấu kính (ở xa và gần).

– Bất kì ai cũng có thể đeo kính gọng hai tròng, đặc biệt là đối với những trẻ quá nhỏ chưa sử dụng được kính áp tròng với tỉ lệ làm giảm quá trình tiến triển cận thị lên đến 45%.

KÍNH ÁP TRÒNG MỀM ĐA TIÊU MULTIFOCAL LENS:

– Kính áp tròng mềm đa tiêu là một loại kính tiếp xúc trực tiếp lên bề mặt nhãn cầu với thiết kế đa tiêu cự vùng nhìn xa ở trung tâm. Trẻ khi sử dụng kính có thể nhìn rõ cả khi nhìn xa, nhìn gần và nhìn trung gian giúp làm giảm đến 49% quá trình tiến triển cận thị.

Học kết hợp với vui chơi và hoạt động ngoại khóa, luyện tập thể dục thể thao cũng sẽ làm hạn chế gia tăng độ cận của trẻ.